Hỏi :

Đề nghị BBT website giải thích rõ cho công ty chúng tôi về việc xác định thời điểm thông báo thông tin hàng hóa xuất khẩu đóng chung container, chung phương tiện chứa hàng? (bichhuyenvantainhanh@oceanway.vn)

Trả lời :

Tại điểm k khoản 1 Điều 18 Thông tư số 38/2015/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung tại điểm b khoản 7 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC) quy định: Khi đăng ký tờ khai hải quan xuất khẩu, người khai hải quan phải khai đầy đủ số hiệu container trên tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu vận chuyển bằng container và số quản lý hàng hóa xuất khẩu. Trường hợp hàng hóa thuộc nhiều tờ khai hải quan xuất khẩu của cùng một chủ hàng đóng chung container hoặc chung phương tiện chứa hàng thì người khai hải quan phải thông báo thông tin quy định tại mẫu số 15 Phụ lục I ban hành kèm Thông tư 39. Như vậy, thời điểm thông báo thông tin hàng hóa xuất khẩu chung container, chung phương tiện chứa hàng là trước khi đăng ký tờ khai hải quan (phần mô tả tại mẫu số 15 Phụ lục I Thông tư 39/2018/TT-BTC).

Hỏi :

Tôi là đại diện doanh nghiệp chuyên nhập khẩu theo loại hình sản xuất xuất khẩu và nhập kinh doanh tiêu dùng. Tôi muốn nhờ BBT website truonghaiquan.edu.vn giải thích cụ thể về việc xác định ngày đưa hàng về bảo quản theo Thông tư 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018? (dinhtienphong@navis.com)

Trả lời :

Đưa hàng về bảo quản là việc doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa ra khỏi khu vực giám sát hải quan tại cửa khẩu để đưa về địa điểm lưu giữ đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 33 Nghị định 08/2015/NĐ-CP được hướng dẫn cụ thể tại điểm b khoản 3 Điều 32 Thông tư 38/2015/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 21 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC). Do vậy, việc xác định thời điểm doanh nghiệp đưa hàng về bảo quản là ngày doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa ra khỏi khu vực giám sát hải quan tại cửa khẩu và được cơ quan hải quan xác nhận trên hệ thống.

Hỏi :

Công ty chúng tôi nhiều lần được phản hồi là chữ ký trên C/O không phù hợp, không giống với chữ ký mẫu của bên Hải quan lưu trữ. Đề nghị BBT tư vấn cho công ty?

Trả lời :

Điều 15, Điều 19 và Điều 21 Thông tư 38/2018/TT-BTC ngày 20/04/2018 của Bộ Tài chính quy định: một trong những nội dung phải kiểm tra trên C/O là mẫu dấu, chữ ký trên C/O đó. Do đó, trường hợp chữ ký của người có thẩm quyền cấp trên C/O không giống với chữ ký mẫu đã được Tổ chức cấp C/O thông báo trước đó, cơ quan Hải quan sẽ tiến hành xác minh tính hợp lệ chữ ký của người cấp C/O. Trường hợp Tổ chức cấp C/O có xác nhận chữ ký của người có thẩm quyền cấp C/O là hợp lệ đồng thời các tiêu chí thể hiện trên C/O phù hợp với các chứng từ thuộc hồ sơ Hải quan thì C/O đó sẽ được chấp nhận và ngược lại, C/O sẽ bị từ chối nếu Tổ chức cấp C/O xác nhận chữ ký của người có thẩm quyền cấp C/O là không hợp lệ.

Hỏi :

Chúng tôi là doanh nghiệp Đài Loan mở tại Hưng Yên. Công ty tôi bán hàng cho công ty trong nước (Việt Nam) nhưng được chỉ định giao hàng tại nước ngoài. Như vậy, chúng tôi có làm được tờ khai hải quan xuất khẩu theo loại hình E62 và có được thanh khoản hoàn thuế hay không?

Trả lời :

Đây là trường hợp công ty bán hàng cho doanh nghiệp trong nước nên công ty không phải mở tờ khai xuất khẩu. Trường hợp doanh nghiệp mua hàng của công ty xuất khẩu ra nước ngoài thì doanh nghiệp này phải mở tờ khai.

Hỏi :

Doanh nghiệp sử dụng cân điện tử để cân hàng hóa luôn được kiểm định định kỳ, nhưng khi hàng thanh lý tại sân bay thì số kg thực tế cân tại doanh nghiệp và số kg cân tại sân bay bị chênh lệch rất lớn. Vui lòng hướng dẫn doanh nghiệp hướng giải quyết để sau này không bị lệch kg và sửa khai bổ sung.

Trả lời :

Đề nghị Công ty kiểm tra lại cân hàng hóa của Công ty. Trường hợp có sự chênh lệch về trọng lượng hàng hóa, đề nghị Công ty thực hiện khai báo bổ sung theo hướng dẫn tại Điều 20 Thông tư 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018.

Một số quy định của pháp luật Nhật Bản về vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới của Hải quan - So sánh với Việt Nam

Cập nhật : 07/12/2017
Lượt xem: 310
Ngày nay vấn đề hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang trở thành vấn nạn trên toàn thế giới. Với lợi nhuận khổng lồ thu được từ việc buôn bán hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nhiều tổ chức và cá nhân đã bất chấp các thủ đoạn để sản xuất các loại hàng hóa phi pháp này với số lượng và quy mô lớn. Đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh thế thế giới đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ được sản xuất và tiêu thụ trong nội địa mà còn vượt biên giới quốc gia thông qua các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Vì vậy biện pháp ngăn chặn và xử lý hàng hóa nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới sẽ dễ dàng hơn khi hàng hóa đã được phân tán tiêu thụ trong nội địa. Biện pháp này được thực hiện bởi cơ quan hải quan (sau đây gọi là biện pháp biên giới) đang được các quốc gia sử dụng rộng rãi như một công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Thực chất của biện pháp biên giới chính là tạm dừng thủ tục hải quan đối với hàng hóa nghi ngờ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ để xác minh tình trạng pháp lý của lô hàng từ đó có biện pháp xử lý đối với hàng hóa này. Đây là biện pháp hành chính mà chỉ có cơ quan hải quan được phép tiến hành trên cơ sở yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ. 

Nhật Bản là một trong những nền kinh tế hàng đầu trên thế giới đã sớm quan tâm đến vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thông qua biện pháp biên giới. Trước khi Hiệp Định các khía cạnh thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ (Agreement on Trade related to Intellecture Property Rights viết tắt là Hiệp định TRIPS) ra đời năm 1994, Chính phủ Nhật đã có các quy định về biện pháp biên giới trong Luật Hải quan năm 1954. Tuy nhiên biện pháp thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới của Nhật Bản được chú trọng hơn là kể từ sau 1994 khi Hiệp định TRIPS được ban hành.  Hiệp định TRIPS được coi là một hiệp định quốc tế mang tính nền tảng, toàn diện, thiết lập được một cơ chế pháp lý tương đối đầy đủ để điều chỉnh các vấn đề về sở hữu trí tuệ. Các nước thành viên của Hiệp định TRIPS trong đó có Nhật Bản và Việt Nam phải nội luật hóa các quy định  đối với vấn đề thực thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới trong luật pháp quốc gia để phù hợp với yêu cầu của Hiệp định TRIPS. Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung cho đến nay, các quy định của pháp luật Nhật Bản về thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới đã hoàn thiện theo hướng mở rộng thẩm quyền cho cơ quan hải quan trong việc kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới. 

Nhật Bản đã thiết lập các tiêu chuẩn bảo vệ quyền sở hữu thông qua biện pháp biên giới cao hơn so với Hiệp định TRIPS. Hiệp định TRIPS không yêu cầu các nước thành viên có nghĩa vụ áp dụng biên pháp biên giới đối với hàng hóa xuất khẩu. Tuy nhiên, dưới quy đinh của Luật Hải quan Nhật Bản, hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu đều là đối tượng áp dụng của biện pháp biên giới. Mặt khác, Hiệp định TRIPS chỉ quy định áp dụng biện pháp biên giới đối với đối tượng là nhãn hiệu hàng hóa và quyền tác giả. Trong khi đó pháp luật Nhật Bản mở rộng đối tượng bảo hộ đối với các loại đối tượng quyền sở hữu trí tuệ khác như quyền đối với cây trồng, quyền sáng chế, chỉ dẫn địa lý hay kiểu dáng công nghiệp. Ngoài ra, hàng hóa quá cảnh không nằm trong đối tượng áp dụng biện pháp biên giới theo quy định của Hiệp định TRIPS, tuy nhiên Luật Hải quan Nhật sửa đổi năm 2008 đã đưa hàng hóa quá cảnh vào trong phạm vi áp dụng biên pháp biên giới.

Pháp luật Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với pháp luật Nhật Bản trong thực hiện bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Hải quan Việt Nam, biện pháp kiểm soát biên giới sẽ được áp dụng cho cả hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và tất cả các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ (quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền đối với giống cây trồng). Riêng đối với vấn đề hàng hóa quá cảnh, pháp luật Việt Nam còn có những quy định còn mâu thuẫn. Luật Hải quan Việt Nam không quy định áp dụng biện pháp biên giới đối với hàng quá cảnh, tuy nhiên tại Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp lại quy định cho cơ quan Hải quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với hoạt động quá cảnh. Đây là điểm bất cập của pháp luật Việt Nam.

Về thủ tục thực thi các biện pháp biên giới, chủ thể quyền muốn được áp dụng biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới phải có đơn nộp cho cơ quan hải quan. Điều 69-13 Luật Hải Nhật Bản quy định chủ thể quyền có thẩm quyền nộp đơn trực tiếp yêu cầu cơ quan Hải quan áp dụng biện pháp biên giới khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của Luật này. Kèm theo đơn, chủ thể quyền được yêu cầu cung cấp các bằng chứng để chứng minh mình là chủ sở hữu của hàng hóa được yêu cầu bảo vệ và các bằng chứng để chứng minh hàng hóa có dấu hiệu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Không giống như Mỹ hay các nước EU, theo quy định của pháp luật Nhật Bản, chủ thể quyền không được phép nộp đơn điện tử mà bắt buộc nộp đơn bằng văn bản. Các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này cũng tương tự như Nhật Bản. Để được cơ quan hải quan thực hiện các biện pháp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới, chủ thể quyền phải nộp đơn yêu cầu theo mẫu kèm theo các tài liệu bắt buộc như theo quy định tại Điều 6, Thông tư 13/2015/TT-BTC.

 
Hải quan Việt Nam kiểm tra các hàng hóa có khả năng vi phạm Luật sở hữu trí tuệ

Theo quy định của pháp luật Nhật Bản, chủ thể quyền không phải đóng bất kỳ một khoản lệ phí nào khi nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp biên giới. Trong khi đó theo quy định của pháp luật Mỹ, khi nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp biên giới, chủ thể quyền phải nộp một khoản lệ phí là 190 USD. Quy định của Nhật nhằm khuyến khích các chủ thể quyền tích cực tham gia biện pháp biên giới để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình. Tại Việt Nam, chủ thể quyền cũng không phải đóng một khoản lệ phí nào khi nộp đơn yêu cầu thực thi biện pháp biên giới tại hải quan.

Căn cứ vào đơn của chủ thể quyền, Hải quan Nhật sẽ tiến hành thẩm định các bằng chứng mà chủ thể quyền cung cấp để xác định có hay không việc hàng hóa bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.Trong vòng một tháng kể từ ngày nhận đơn, Hải quan Nhật phải đưa ra được quyết định chấp nhận hay từ chối đơn yêu cầu của chủ thể quyền. Trong khi đó ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 75, Luật Hải quan 2014, thời hạn để thông báo cho chủ thể quyền về việc chấp nhận hay từ chối đơn là trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận được đơn. Điểm đáng lưu ý trong trường hợp cần thiết, cơ quan Hải quan Nhật có thể trưng cầu ý kiến của các Ban tư vấn về kỹ thuật. Bộ phận tư vấn này sẽ bao gồm các chuyên gia, các học giả hoặc các luật sư là những người có nhiều kinh nghiệm và kiến thức trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Mục đích của cơ chế tư vấn này nhằm đảm tính minh bạch của quyết định chấp nhận hay từ chối đơn yêu cầu của chủ thể quyền. Đây là điểm khác biệt của pháp luật Nhật so với Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới. Hải quan Việt Nam có thể tự đưa ra quyết định chấp nhận hoặc từ chối đơn yêu cầu bảo hộ mà không cần đến sự tư vấn của bất kỳ cơ quan nào.  

Theo quy định của pháp luật Nhật Bản, trong trường hợp đơn yêu cầu bảo hộ được chấp nhận, thời hạn có hiệu lực của đơn sẽ kéo dài trong bốn năm. Thời hạn hiệu lực của đơn yêu cầu này dài hơn hai năm so với quy định của pháp luật Việt Nam. Việc quy định thời hạn hiệu lực của đơn là bốn năm sẽ giảm bớt các thủ tục hành chính rườm ra cho cơ quan hải quan cũng như chủ thể quyền trong trường hợp chủ thể quyền mong muốn áp dụng lâu dài các biện pháp biên giới.  

 
(Hải quan Nhật Bản bắt giữ các hàng hóa giả nhập khẩu - Japan blocked record number of imported fakes in 2014 - Nguồn: www.japantimes.co.jp)

Sau khi đồng ý tiếp nhận đơn, Hải quan Nhật Bản trong quá thực hiện giám sát hải quan, nếu phát hiện hàng hóa có dấu hiệu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ sẽ tiến hành việc tạm dừng thủ tục hải quan. Cơ quan hải quan sẽ thông báo cho cả chủ thể quyền và nhà nhập khẩu về việc tạm dừng này. Trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, cả chủ thể quyền và người nhập khẩu đều có quyền bình đẳng đưa ra các ý kiến và bằng chứng tới cơ quan hải quan. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan hải quan có thể yêu cầu người nộp đơn nộp một khoản đặt cọc để đảm bảo thiệt hại có thể xảy ra do việc tạm dừng làm thủ tục hải quan. 

Thời hạn để xác định tình trạng pháp lý của hàng hóa nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là trong vòng một tháng. Trong một số trường hợp phức tạp cần sự tự vấn từ phía các chuyên gia, thời hạn này được kéo dài hai tháng. Trong khi đó pháp luật Việt Nam quy định, thời hạn tạm dừng thủ tục hải quan là 10 ngày làm việc, thời hạn này có thể kéo dài hơn nhưng không được vượt quá 20 ngày. Quy định của pháp luật Việt Nam cũng giống như quy định trong hiệp định TRIPS. Như vậy, tùy thuộc vào từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia, các thành viên hiệp định TRIPS có thể quy định thời hạn khác nhau miễn là không thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu của Hiệp định TRIPS. 

Một điểm đáng chú ý trong quá trình thực thi biện pháp biên giới, Hải quan Nhật  Bản còn có quyền hành động mặc nhiên (ex-officio) tức là không cần có đơn yêu cầu của chủ thể quyền vẫn được phép tiến hành tạm dừng thủ tục hải quan trong trường hợp có bằng chứng rõ ràng về việc hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 58 của Hiệp Định TRIPS. Hải quan Việt Nam cũng có quyền hành động mặc nhiên, tuy nhiên các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này hiện nay còn nhiều điểm chưa rõ ràng gây khó khăn cho công chức trong việc thực hiện quyền hành động mặc nhiên. 

Nhìn chung, các quy định về thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới của pháp luật Nhật Bản hướng tính  hiệu quả, khả thi và khuyến khích chủ thể quyền áp dụng biện pháp biên giới để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Chính vì vậy mà biện pháp biên giới đã được sử dụng như một công cụ hữu hiệu ở Nhật Bản trong cuộc chiến chống lại hàng giả và hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này có một số điểm tương đồng với pháp luật Nhật Bản. Tuy nhiên còn một số quy định bất cập sẽ gây khó khăn cho cơ quan hải quan trong quá trình thực thi. Vì vậy để tăng cường hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới của cơ quan hải quan việc rà soát các quy định chồng chéo, chưa rõ ràng, đồng thời học hỏi kinh nghiệm của Nhật Bản để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này là hết sức cần thiết./.

Hằng Nguyễn – Giảng viên Khoa Nghiệp vụ