Hỏi :

Hỏi: Xin cho biết thủ tục xác định mã số HS của hàng hoá dự kiến XNK trước khi làm thủ tục hải quan là gì? (Công ty CP Ong Tam Đảo)

Trả lời :

Hỏi: Xin cho biết thủ tục xác định mã số HS của hàng hoá dự kiến XNK trước khi làm thủ tục hải quan là gì? (Công ty CP Ong Tam Đảo)

Đáp: Để nắm được mã HS của hàng hoá dự kiến XNK trước khi làm thủ tục hải quan, DN có thể lựa chọn phương án đề nghị xác định trước mã số hàng hoá theo quy định hiện hành. Theo đó, tại Khoản 11, Điều 1 Nghị định 59/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định “2. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đề nghị xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan: a) Nộp đủ hồ sơ đề nghị xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đến Tổng cục Hải quan trong thời hạn ít nhất 60 ngày trước khi XNK lô hàng”. Cũng tại Khoản 3, Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC sửa đổi bổ sung một số điều tại Thông tư 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn: “1. Hồ sơ, mẫu hàng hoá xác định trước mã số. a) Đơn đề nghị xác định trước mã số theo mẫu số 01/XĐTMS/TXNK Phụ lục VI ban hành kèm Thông tư này; b) Tài liệu kỹ thuật do tổ chức, cá nhân đề nghị xác định trước mã số hàng hoá cung cấp (bản phân tích thành phần, catologue, hình ảnh hàng hoá): 1 bản chụp; c) Mẫu hàng hoá dự kiến XNK (nếu có)".

Hỏi :

Hỏi: Chúng tôi làm thủ tục hải quan tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng. Khi xuất trình C/O form AK, trên ô số 7, phía đối tác không thể hiện thông tin về và số kiện hàng nên C/O đó bị từ chối. Vậy xin hỏi BBT website truonghaiquan.edu.vn, chúng tôi nên xử lý thế nào trong tình huống nêu trên. Chúng tôi cam kết hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O.

Trả lời :

Hỏi: Chúng tôi làm thủ tục hải quan tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng. Khi xuất trình C/O form AK, trên ô số 7, phía đối tác không thể hiện thông tin về và số kiện hàng nên C/O đó bị từ chối. Vậy xin hỏi BBT website truonghaiquan.edu.vn, chúng tôi nên xử lý thế nào trong tình huống nêu trên. Chúng tôi cam kết hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O. (Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư S, Quận Lê Chân, TP. Hải Phòng)

Đáp: Chào bạn. Về việc này, BBT website xin trả lời như sau:

1. Theo hướng dẫn tại mẫu Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa mẫu AK và VK (KV) ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BCT ngày 25/6/2014 và Thông tư số 40/2015/TT-BCT ngày 18/11/2015, ô số 7 của C/O khai báo số và loại kiện hàng, mô tả hàng hóa (bao gồm số lượng (nếu có) và mã HS của nước nhập khẩu); thông tin mô tả hàng hóa phải đủ chi tiết để cán bộ hải quan có thể kiểm tra. Do đó, các thông tin mô tả hàng hóa trên ô số 7 C/O cần đầy đủ để cơ quan hải quan xác định hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O.

2. Căn cứ quy định tại Mục 2.2.3 Quyết định số 4286/QĐ-TCHQ ngày 31/12/2015, trong trường hợp C/O không thể hiện thông tin về số và kiện hàng tại ô số 7 nhưng cơ quan hải quan qua kiểm tra, đối chiếu C/O với các chứng từ khác trong bộ hồ sơ hải quan, kết quả kiểm tra thực tế (nếu có) và thông tin trên trang tra cứu điện tử của cơ quan cấp C/O Hàn Quốc, xác định hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O thì cơ quan hải quan xem xét chấp nhận C/O.

Đề nghị công ty bạn đối chiếu với các quy định hiện hành, giải trình và đề xuất với đơn vị hải quan nơi bạn làm thủ tục để xử lý.

Hỏi :

Hỏi: Công ty chúng tôi khi làm thủ tục xin miễn thuế nhập khẩu được cơ quan hải quan hướng dẫn xuất trình  vận đơn MBL/HBL. Xin đề nghị BBT giải thích cụ thể hơn? (Công ty TNHH Tiếp vận và Vận tải A, huyện Kiến An, TP. Hải Phòng)


Trả lời :

Hỏi: Công ty chúng tôi khi làm thủ tục xin miễn thuế nhập khẩu được cơ quan hải quan hướng dẫn xuất trình  vận đơn MBL/HBL. Xin đề nghị BBT giải thích cụ thể hơn? (Công ty TNHH Tiếp vận và Vận tải A, huyện Kiến An, TP. Hải Phòng).

Đáp: Câu hỏi của bạn, BBT xin trả lời như sau: Khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu người khai hải quan chỉ phải nộp cho cơ quan Hải quan một bản chụp vận đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương. Theo quy định tại Điều 105 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính thì hồ sơ miễn thuế là hồ sơ hải quan theo hướng dẫn tại Thông tư này. Theo quy định tại Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2, Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC và Điều 16 Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 5, Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính thì khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, người khai hải quan phải nộp cho cơ quan hải quan "vận đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương đối với trường hợp hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, đường hàng không; đường sắt, vận tải đa phương thức theo quy định của pháp luật (trừ hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới đường bộ, hàng hóa mua bán giữa khu phi thuế quan và nội địa, hàng hóa nhập khẩu do người nhập cảnh mang theo đường hành lý): 1 bản chụp”.

Hỏi :

Hỏi: Liên quan đến việc nộp Giấy phép Cites khi làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất hàng hóa thuộc Phụ lục Cites, đề nghị BBT website giải đáp cụ thể cho doanh nghiệp chúng tôi (clearance procedure@vietnamline.vn)

Trả lời :

Hỏi: Liên quan đến việc nộp Giấy phép Cites khi làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất, đề nghị BBT website giải đáp cụ thể cho doanh nghiệp chúng tôi (clearance procedure@vietnamline.vn)

Đáp: Khi thủ tục nộp Giấy phép Cites khi làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất hàng hóa thuộc Phụ lục Cites, doanh nghiệp nộp 01 bản chụp Giấy phép Cites có xác nhận của doanh nghiệp cho cơ quan hải quan và xuất trình bản chính Giấy phép Cites (bản giấy) để cán bộ hải quan xác nhận số lượng hàng hóa thực xuất vào ô số 14 của Giấy phép Cites. Chi cục Hải quan sao gửi 01 bản Giấy phép đã xác nhận về Cơ quan quản lý Cites theo quy định tại Điều 24, Nghị định số 82/2006/NĐ-CP và trả bản chính Giấy phép Cites cho doanh nghiệp để thực hiện thủ tục ở nước nhập khẩu. Trường hợp Giấy phép Cites được cấp trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, doanh nghiệp không phải nộp một bản chụp Giấy phép Cites cho cơ quan hải quan.

Hỏi :

Hỏi: Thời gian gần đây, không hiểu vì lý do gì mà số lượng tờ khai kiểm tra thực tế hàng hóa của công ty chúng tôi tăng đột biến. Chúng tôi xin hỏi Quý Hải quan căn cứ vào đâu mà công ty chúng tôi lại bị hiện tượng này? Giải pháp nào để khắc phục (Công ty TNHH MTV Thương mại và Xuất nhập khẩu MLK)

Trả lời :

Hỏi: Thời gian gần đây, không hiểu vì lý do gì mà số lượng tờ khai kiểm tra thực tế hàng hóa của công ty chúng tôi tăng đột biến. Chúng tôi xin hỏi Quý Hải quan căn cứ vào đâu mà công ty chúng tôi lại bị hiện tượng này? Giải pháp nào để khắc phục (Công ty TNHH MTV Thương mại và Xuất nhập khẩu MLK)

Đáp: Về câu hỏi của bạn, chúng tôi xin giải đáp như sau: Việc hệ thống quyết định phân luồng kiểm tra tờ khai được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro nhằm đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu theo đúng quy định tại khoản 2, Điều 16, Luật Hải quan năm 2014; Điều 13, Điều 15 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan và Điều 8, Điều 10 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Do đó, đề nghị công ty tiếp tục hợp tác với cơ quan Hải quan để hệ thông thông tin QLRR ghi nhận tình hình tuân thủ, từ đó góp phần cải thiện kết quả phân luồng tờ khai.

Hội thảo đào tạo trực tuyến (e-learning) tại Trường Hải quan Việt Nam: Một số kết quả đáng ghi nhận

Cập nhật : 21/05/2019
Lượt xem: 171

(BBT) - Như tin đã đưa, ngày 15/5/2019 tại Trường Hải quan Việt Nam đã diễn ra Hội thảo xây dựng Hệ thống đào tạo trực tuyến (e-learning), ngày 17/5, chuyên gia làm việc trực tiếp cùng Lãnh đạo Trường và đại diện các đơn vị Khoa, Phòng về các nội dung liên quan. Tuy hội thảo đã khép lại nhưng đồng thời cũng mở ra nhiều cơ hội cho Nhà trường trong việc đa dạng hóa các loại hình đào tạo để bắt kịp xu hướng hội nhập với hải quan khu vực và hải quan thế giới.

Tại Hội thảo, Trường Hải quan Việt Nam đã trình bày thực trạng đào tạo của Trường. Đào tạo truyền thống (đào tạo trực tiếp: face-to-face) là hình thức đào tạo chủ yếu. Mặc dù Trường đã triển khai hoạt đào tạo thí điểm e-learning từ năm 2014 nhưng hiệu quả mang không được như mong đợi. Vì thế, từ đó đến nay, loại hình đào tạo này vẫn còn bỏ ngỏ. Thông qua Hội thảo lần này, Trường Hải quan Việt Nam bày tỏ mong muốn được chia sẻ các kinh nghiệm đào tạo e-learning từ phía các chuyên gia Dự án Tạo thuận lợi thương mại (TFP) và hy vọng được tư vấn về lộ trình xây dựng e-learning cũng như lựa chọn một số nội dung phù hợp để làm thí điểm.


Các đại biểu tham dự Hội thảo Đào tạo trực tuyến
(Ảnh: Văn phòng Trường)


Các chuyên gia của Dự án TFP chia sẻ những kinh nghiệm thực tế đào tạo trực tuyến đã được triển khai tại Mỹ.Theo các chuyên gia, học trực tuyến được hiểu là việc học thông qua các thiết bị điện tử như máy tính bàn, máy tính bảng, điện thoại thông minh hoặc một số thiết bị khác. Học trực tuyến có thể được tiến hành một cách độc lập hoặc kết hợp với kiểu học truyền thống (face-to-face). Giờ học có thể linh hoạt cho học viên hoặc đồng bộ vào một khung giờ nhất định. Đối với kiểu giờ học linh hoạt, học viên tự mình bố trí thời gian để tham gia học ở mọi nơi, mọi lúc, miễn là hoàn thành các yêu cầu về nội dung học tập. Giờ học đồng bộ yêu cầu học viên phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt khung giờ học đã được định sẵn. Học viên có thể tham gia lớp học trực tuyến một cách thụ động hoặc có sự tương tác với các học viên khác và với giảng viên. Hình thức học trực tuyến có một số ưu điểm vượt trội so với học trực tiếp, đó là tiết kiệm chi phí, đa dạng chủ đề và thể loại và mang lại hiệu quả cao.



Chuyên gia Dự án TFP trao đổi tại Hội thảo
(Ảnh: Văn phòng Trường)


Việc học trực tuyến là thông qua các thiết bị công nghệ để hỗ trợ người học hoàn thành các mục tiêu của chương trình đào tạo. Công nghệ đóng một vai trò quan trọng đối với học trực tuyến. Tuy nhiên, e-learning thường không yêu cầu các kỹ năng phức tạp về công nghệ. Việc học được đặt lên đầu, công nghệ chỉ đứng thứ hai.

Chuyên gia cũng đã đưa ra kết quả một nghiên cứu ban đầu về đào tạo trực tuyến tại Mỹ năm 2006 cho thấy, kết quả học tập của hình thức học trực tuyến và học trực tiếp là như nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hình thức học tập kết hợp mang lại kết quả cao học tập trực tiếp. Đối với học tập trực tuyến, động lực của học viên là chìa khóa quyết định sự thành công.

Trong suốt quá trình hội thảo, hai bên đã có những trao đổi thiện chí và tích cực nhằm hướng tới mục tiêu làm thế nào để e-learning trở thành một công cụ đào tạo hữu ích tại Trường Hải quan Việt Nam. Tổ chức thành công một khóa học e-learning cần có sự kết hợp của nhiều yếu tố như: giảng viên, thiết kế bài giảng, hỗ trợ công nghệ, quản lý công nghệ giáo dục và người học. Từng triển khai một số chương trình đào tạo trực tuyến tại Việt Nam, các chuyên gia đánh giá người học Việt Nam thường thiếu kinh nghiệm học trực tuyến, vì vậy khâu chuẩn bị trước khi bắt đầu học trực tuyến là rất quan trọng. Đây là những kinh nghiệm quý báu để Trường Hải quan Việt Nam triển khai chương trình e-learning sau này.

Hội thảo đã đi đến thống nhất một số nội dung quan trọng để hai bên tiếp tục triển khai trong thời gian tới. Đó là: xây dựng danh mục các môn học cần đào tạo trực tuyến; khảo sát nhu cầu đào tạo của một số hải quan địa phương; xây dựng Dự thảo về kế hoạch xây dựng đào tạo trực tuyến tại Trường Hải quan Việt Nam.

Sau ngày hội thảo, Dự án tạo thuận lợi thương mại của USAID tiếp tục có buổi gặp gỡ và tham vấn với Lãnh đạo Khoa và Lãnh đạo Nhà Trường nhằm tìm hiểu kỹ hơn về định hướng phát triển của Trường đối với đào tạo trực tuyến trong thời gian tới.

(Hằng Nguyễn - Khoa Nghiệp vụ)