Hỏi :

Hỏi:  Thời gian vừa qua có nhiều văn bản mới ban hành liên quan đến lĩnh vực hải quan. BBT website truonghaiquan.edu.vn có thể thống kê giúp chúng tôi một số văn bản từ tháng 9 năm 2018 đến nay để chúng tôi tiện theo dõi không (Công ty XNK Gỗ Trường An)

Trả lời :

Hỏi:  Thời gian vừa qua có nhiều văn bản mới ban hành liên quan đến lĩnh vực hải quan. BBT website truonghaiquan.edu.vn có thể thống kê giúp chúng tôi một số văn bản từ tháng 9 năm 2018 đến nay để chúng tôi tiện theo dõi không (Công ty XNK Gỗ Trường An)

Đáp: Công ty có thể tham khảo một số văn bản như sau:

1. Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019.

2. Nghị định số 14/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2015/NĐ-CP ngày 28/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.

3. Nghị định số 57/2019/NĐ-CP ngày 26/6/2019 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương giai đoạn 2019 - 2022.

4. Quyết định số 23/2019/QĐ-TTg ngày 27/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục hàng hóa nhập khẩu phải làm thủ tục tại cửa khẩu nhập.

5. Thông tư số 93/2018/TT-BTC ngày 05/10/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 19/2014/TT-BTC ngày 11/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định thủ tục tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu, tiêu hủy, chuyển nhượng xe ô tô, xe hai bánh gắn máy của đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam.

6. Thông tư số 07/2019/TT-BTC ngày 15/02/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 72/2015/TT-BTC ngày 12/5/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định áp dụng chế độ ưu tiên trong việc thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp.

7. Thông tư số 09/2019/TT-BTC ngày 15/02/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại các phụ lục của Thông tư số 65/2017/TT-BTC ngày 27/6/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.

8. Thông tư số 22/2019/TT-BTC ngày 16/4/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 12/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết thủ tục cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; cấp và thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; trình tự, thủ tục công nhận và hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan.

9. Thông tư số 56/2019/TT-BTC ngày 23/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 49/2015/TT-BTC ngày 14/4/2015 quy định thủ tục hải quan đối với thư, gói, kiện hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua dịch vụ bưu chính của doanh nghiệp được chỉ định và Thông tư số 191/2015/TT-BTC ngày 24/11/2015 quy định thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế.

10. Thông tư 60/2019/TT-BTC ngày 30/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

11. Thông tư 62/2019/TT-BTC ngày 05/9/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 38/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

(BBT)

Hỏi :

Hỏi: Xin cho biết thủ tục xác định mã số HS của hàng hoá dự kiến XNK trước khi làm thủ tục hải quan là gì? (Công ty CP Ong Tam Đảo)

Trả lời :

Hỏi: Xin cho biết thủ tục xác định mã số HS của hàng hoá dự kiến XNK trước khi làm thủ tục hải quan là gì? (Công ty CP Ong Tam Đảo)

Đáp: Để nắm được mã HS của hàng hoá dự kiến XNK trước khi làm thủ tục hải quan, DN có thể lựa chọn phương án đề nghị xác định trước mã số hàng hoá theo quy định hiện hành. Theo đó, tại Khoản 11, Điều 1 Nghị định 59/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định “2. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đề nghị xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan: a) Nộp đủ hồ sơ đề nghị xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đến Tổng cục Hải quan trong thời hạn ít nhất 60 ngày trước khi XNK lô hàng”. Cũng tại Khoản 3, Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC sửa đổi bổ sung một số điều tại Thông tư 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn: “1. Hồ sơ, mẫu hàng hoá xác định trước mã số. a) Đơn đề nghị xác định trước mã số theo mẫu số 01/XĐTMS/TXNK Phụ lục VI ban hành kèm Thông tư này; b) Tài liệu kỹ thuật do tổ chức, cá nhân đề nghị xác định trước mã số hàng hoá cung cấp (bản phân tích thành phần, catologue, hình ảnh hàng hoá): 1 bản chụp; c) Mẫu hàng hoá dự kiến XNK (nếu có)".

Hỏi :

Hỏi: Chúng tôi làm thủ tục hải quan tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng. Khi xuất trình C/O form AK, trên ô số 7, phía đối tác không thể hiện thông tin về và số kiện hàng nên C/O đó bị từ chối. Vậy xin hỏi BBT website truonghaiquan.edu.vn, chúng tôi nên xử lý thế nào trong tình huống nêu trên. Chúng tôi cam kết hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O.

Trả lời :

Hỏi: Chúng tôi làm thủ tục hải quan tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng. Khi xuất trình C/O form AK, trên ô số 7, phía đối tác không thể hiện thông tin về và số kiện hàng nên C/O đó bị từ chối. Vậy xin hỏi BBT website truonghaiquan.edu.vn, chúng tôi nên xử lý thế nào trong tình huống nêu trên. Chúng tôi cam kết hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O. (Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư S, Quận Lê Chân, TP. Hải Phòng)

Đáp: Chào bạn. Về việc này, BBT website xin trả lời như sau:

1. Theo hướng dẫn tại mẫu Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa mẫu AK và VK (KV) ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BCT ngày 25/6/2014 và Thông tư số 40/2015/TT-BCT ngày 18/11/2015, ô số 7 của C/O khai báo số và loại kiện hàng, mô tả hàng hóa (bao gồm số lượng (nếu có) và mã HS của nước nhập khẩu); thông tin mô tả hàng hóa phải đủ chi tiết để cán bộ hải quan có thể kiểm tra. Do đó, các thông tin mô tả hàng hóa trên ô số 7 C/O cần đầy đủ để cơ quan hải quan xác định hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O.

2. Căn cứ quy định tại Mục 2.2.3 Quyết định số 4286/QĐ-TCHQ ngày 31/12/2015, trong trường hợp C/O không thể hiện thông tin về số và kiện hàng tại ô số 7 nhưng cơ quan hải quan qua kiểm tra, đối chiếu C/O với các chứng từ khác trong bộ hồ sơ hải quan, kết quả kiểm tra thực tế (nếu có) và thông tin trên trang tra cứu điện tử của cơ quan cấp C/O Hàn Quốc, xác định hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O thì cơ quan hải quan xem xét chấp nhận C/O.

Đề nghị công ty bạn đối chiếu với các quy định hiện hành, giải trình và đề xuất với đơn vị hải quan nơi bạn làm thủ tục để xử lý.

Hỏi :

Hỏi: Công ty chúng tôi khi làm thủ tục xin miễn thuế nhập khẩu được cơ quan hải quan hướng dẫn xuất trình  vận đơn MBL/HBL. Xin đề nghị BBT giải thích cụ thể hơn? (Công ty TNHH Tiếp vận và Vận tải A, huyện Kiến An, TP. Hải Phòng)


Trả lời :

Hỏi: Công ty chúng tôi khi làm thủ tục xin miễn thuế nhập khẩu được cơ quan hải quan hướng dẫn xuất trình  vận đơn MBL/HBL. Xin đề nghị BBT giải thích cụ thể hơn? (Công ty TNHH Tiếp vận và Vận tải A, huyện Kiến An, TP. Hải Phòng).

Đáp: Câu hỏi của bạn, BBT xin trả lời như sau: Khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu người khai hải quan chỉ phải nộp cho cơ quan Hải quan một bản chụp vận đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương. Theo quy định tại Điều 105 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính thì hồ sơ miễn thuế là hồ sơ hải quan theo hướng dẫn tại Thông tư này. Theo quy định tại Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2, Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC và Điều 16 Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 5, Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính thì khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, người khai hải quan phải nộp cho cơ quan hải quan "vận đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương đối với trường hợp hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, đường hàng không; đường sắt, vận tải đa phương thức theo quy định của pháp luật (trừ hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới đường bộ, hàng hóa mua bán giữa khu phi thuế quan và nội địa, hàng hóa nhập khẩu do người nhập cảnh mang theo đường hành lý): 1 bản chụp”.

Hỏi :

Hỏi: Liên quan đến việc nộp Giấy phép Cites khi làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất hàng hóa thuộc Phụ lục Cites, đề nghị BBT website giải đáp cụ thể cho doanh nghiệp chúng tôi (clearance procedure@vietnamline.vn)

Trả lời :

Hỏi: Liên quan đến việc nộp Giấy phép Cites khi làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất, đề nghị BBT website giải đáp cụ thể cho doanh nghiệp chúng tôi (clearance procedure@vietnamline.vn)

Đáp: Khi thủ tục nộp Giấy phép Cites khi làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất hàng hóa thuộc Phụ lục Cites, doanh nghiệp nộp 01 bản chụp Giấy phép Cites có xác nhận của doanh nghiệp cho cơ quan hải quan và xuất trình bản chính Giấy phép Cites (bản giấy) để cán bộ hải quan xác nhận số lượng hàng hóa thực xuất vào ô số 14 của Giấy phép Cites. Chi cục Hải quan sao gửi 01 bản Giấy phép đã xác nhận về Cơ quan quản lý Cites theo quy định tại Điều 24, Nghị định số 82/2006/NĐ-CP và trả bản chính Giấy phép Cites cho doanh nghiệp để thực hiện thủ tục ở nước nhập khẩu. Trường hợp Giấy phép Cites được cấp trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, doanh nghiệp không phải nộp một bản chụp Giấy phép Cites cho cơ quan hải quan.

Công tác đào tạo theo cơ chế tự chủ tài chính của Trường Hải quan Việt Nam dưới góc nhìn của các đơn vị trong và ngoài Ngành

Cập nhật : 29/11/2019
Lượt xem: 92

(BBT) - Phương hướng triển khai công tác đào tạo theo cơ chế tự chủ tài chính của Trường Hải quan Việt Nam đã thu hút nhiều sự quan tâm, ý kiến đánh giá sát thực, dưới góc nhìn đa chiều và gợi mở nhiều hướng phát triển mới theo xu thế xã hội tại Hội thảo do Phó Tổng cục trưởng Hoàng Việt Cường chủ trì ngày 19/11/2019.

Tự chủ tài chính được xác định rõ là một hướng phát triển tất yếu của Trường Hải quan Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tham dự Hội thảo, với những góc nhìn đa chiều và khách quan, các đại biểu đã đưa ra nhiều ý kiến và giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong mục tiêu phát triển công tác đào tạo, bồi dưỡng cơ chế tự chủ tài chính của Trường Hải quan Việt Nam.


Ông Nguyễn Đình Phiên - Hiệu trưởng Nhà trường trình bày
Báo cáo tổng kết công tác tự chủ năm 2019 của Trường Hải quan Việt Nam

Đại diện Cục Giám sát quản lý - ông Nguyễn Quang Sơn khi bàn về “Nhu cầu và cách thức đào tạo đại lý hải quan hiệu quả” đã nhấn mạnh: “Đây là cơ hội tốt nhất để Trường Hải quan Việt Nam bứt phá”. Theo đó, Trường cần kết nối với các đơn vị trong và ngoài Ngành có liên quan để xác định nhu cầu đào tạo của đối tượng này để có biện pháp tiếp cận phù hợp. Tham luận đề nghị Trường Hải quan Việt Nam cần chuẩn hóa chất lượng đào tạo về mọi mặt, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chi tiết đáp ứng nhu cầu của xã hội. Với những lợi thế đặc thù đang có, Cục Giám sát quản lý về hải quan tin tưởng Nhà trường sẽ nhanh chóng tiếp cận và thích ứng được yêu cầu của thách thức mới. Cục Giám sát quản lý sẵn sàng phối hợp với Nhà trường rà soát mạng lưới Hiệp hội doanh nghiệp, khảo sát nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp. Đồng thời, Lãnh đạo Cục tạo điều kiện, động viên, khuyến khích giảng viên kiêm nhiệm tham gia các hoạt động giảng dạy tại Nhà trường trong thời gian tới.

 
Ông Nguyễn Quang Sơn - Đại diện Cục Giám sát quản lý về hải quan
(Tổng cục Hải quan) phát biểu

Là một trong những giảng viên gắn bó với công tác đào tạo, bồi dưỡng của Nhà trường trong nhiều năm qua, Phó Cục trưởng Cục Quản lý rủi ro – ông Bùi Thái Quang nêu rõ sự cần thiết của các khóa đào tạo, bồi dưỡng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong tham luận“Khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ và tự nguyện thực hiện đúng pháp luật về hải quan”. Tham luận đề cập đến sự lúng túng của doanh nghiệp trong việc chấp hành và thực thi các quy định của pháp luật về nghiệp vụ hải quan. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng rất khó khăn trong việc tìm kiến thông tin về các khóa đào tạo, bồi dưỡng của Nhà trường. Qua đó, ông cũng gợi mở một số hướng tiếp cận và khai thác thị trường đào tạo, bồi dưỡng cho doanh nghiệp mà Nhà trường cần tận dụng, hướng đến thành lập các nhóm hoặc trung tâm đào tạo tại một số Cục Hải quan theo vùng phối hợp với Nhà trường tổ chức lớp độc lập nhằm tiết kiệm chi phí và nguồn lực. Mặt khác, đại diện Lãnh đạo Cục Quản lý rủi ro cũng chỉ ra yêu cầu cần nâng cao chất lượng và số lượng đội ngũ giảng viên trong từng chuyên đề giảng dạy để chủ động trong việc bố trí và tổ chức các lớp.

Tham luận “Cơ chế tự chủ về tài chính của Trường Hải quan Việt Nam” của Cục Tài vụ Quản trị được đánh giá là một tham luận giàu thực tiễn và có tính định hướng rõ nét. Tham luận nêu rõ những thuận lợi, khó khăn của Nhà trường trong bước đầu thực hiện cơ chế tự chủ tài chính. Với điều kiện, nguồn lực và tiến trình phát triển hiện nay, Cục Tài vụ Quản trị cho rằng, trước mắt Nhà trường nên thực hiện tự chủ tài chính một phần để từng bước thích ứng với yêu cầu trong tình hình mới. Song song với đó, Trường Hải quan Việt Nam nên nghiên cứu xây dựng các cơ chế tài chính cho giai đoạn 2021 - 2024 để đảm bảo việc chủ động chuyển đổi sang tự chủ 100% khi đầy đủ các nguồn lực cần thiết.

Một số giảng viên kiêm nhiệm tham dự hội thảo đánh giá công tác đào tạo theo cơ chế tự chủ của Trường Hải quan Việt Nam đang đi đúng hướng và từng bước tiếp cận được nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, đối tượng đào tạo mới chỉ tập trung vào các công chức trong Ngành (chiếm hơn 70% số lượng lớp và lượt học viên), kế hoạch đào tạo chưa bám sát với nhu cầu thực tiễn. Hiện nay các chương trình đào tạo của Nhà trường mới tập trung vào một số nội dung thuần túy, cơ bản như: thủ tục hải quan, thuế hải quan, nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan,… mà chưa đẩy mạnh triển khai một số chương trình thế mạnh, mũi nhọn đang là lợi thế độc quyền của ngành Hải quan song song với việc tiếp cận các nội dung thuộc về kỹ năng văn phòng như: tin học, soạn thảo văn bản, lập báo cáo quyết toán,… Nhà trường nên phối hợp với một số cơ sở đào tạo có uy tín, kinh nghiệm để triển khai các chương trình đáp ứng nhu cầu của từng đơn vị, doanh nghiệp.


Ông Bùi Ngọc Lợi - đại diện Vụ Tổ chức cán bộ
(Tổng cục Hải quan) trình bày quan điểm

Đại diện các Hiệp hội doanh nghiệp khẳng định nhu cầu đào tạo về nghiệp vụ hải quan của doanh nghiệp là rất lớn. Các Hiệp hội sẵn sàng hỗ trợ Trường Hải quan Việt Nam phát triển theo hướng đi mới này. Hiện nay, các hiệp hội đã và đang có những hoạt động đào tạo cho doanh nghiệp về nghiệp vụ hải quan. Tuy nhiên nhiều nội dung còn chưa chuyên sâu, chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Các Hiệp hội đề nghị Nhà trường nhanh chóng xây dựng kế hoạch và triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng bám sát nhu cầu của doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể, đặc biệt cập nhật thay đổi trong chính sách quản lý Nhà nước về hải quan. Nhân tố quan trọng mà Nhà trường nên củng cố và phát triển là đội ngũ giảng viên có chuyên môn sâu để đáp ứng kịp thời yêu cầu mới. Ngoài ra, Nhà trường cần thường xuyên liên kết với các Hiệp hội để thông báo, truyền thông về các chương trình đào tạo, bồi dưỡng đến các doanh nghiệp.


Ông Hoàng Việt Cường - Phó Tổng cục trưởng
Tổng cục Hải quan kết luận hội thảo

Những ý kiến góp ý của các đại diện đơn vị tham gia hội thảo đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh với nhiều cơ hội và thách thức mới cho Trường Hải quan Việt Nam. Thông qua đó, Nhà trường có thể phân tích, đánh giá lại tiềm năng, khó khăn và lựa chọn phương hướng phát triển trong giai đoạn tới để từng bước nâng cao chất lượng công tác đào tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ được Lãnh đạo Tổng cục giao.

(Hồng Hường - Phòng ĐT&QLHV)