Hỏi :

(BBT) - Nhiều học viên, thí sinh đăng ký dự thi Kỳ thi cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan năm 2019 thắc mắc về điều kiện được miễn thi một hoặc các môn thi Pháp luật về hải quan, Kỹ thuật nghiệp vụ hải quan, Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương. Trường Hải quan Việt Nam giải đáp như sau:

Trả lời :

(BBT) - Nhiều học viên, thí sinh đăng ký dự thi Kỳ thi cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan năm 2019 thắc mắc về điều kiện được miễn thi một hoặc các môn thi Pháp luật về hải quan, Kỹ thuật nghiệp vụ hải quan, Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương. Trường Hải quan Việt Nam giải đáp như sau:

1. Các trường hợp miễn thi:

a) Miễn thi môn Pháp luật về hải quan và môn Kỹ thuật nghiệp vụ hải quan đối với trường hợp:

a.1) Người tốt nghiệp chuyên ngành hải quan thuộc các trường đại học, cao đẳng mà đăng ký dự thi cấp Chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp bằng tốt nghiệp;

a.2) Người đã làm giảng viên thuộc chuyên ngành hải quan tại các trường đại học, cao đẳng có thời gian công tác liên tục từ 05 năm trở lên, sau khi thôi làm giảng viên (không bao gồm trường hợp bị kỷ luật buộc thôi việc) mà đăng ký dự thi cấp Chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan trong thời hạn 03 năm kể từ ngày có quyết định chuyển công tác, nghỉ hưu hoặc nghỉ việc.

b) Miễn thi môn Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương đối với trường hợp:

b.1) Người tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế ngoại thương, thương mại quốc tế, kinh tế đối ngoại, kinh tế quốc tế hoặc logistics và quản lý chuỗi cung ứng thuộc các trường đại học, cao đẳng mà đăng ký dự thi cấp Chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp bằng tốt nghiệp; 

b.2) Người đã làm giảng viên thuộc chuyên ngành kinh tế ngoại thương hoặc thương mại quốc tế hoặc kinh tế đối ngoại hoặc kinh tế quốc tế hoặc logistics và quản lý chuỗi cung ứng tại các trường đại học, cao đẳng có thời gian công tác liên tục từ 05 năm trở lên, sau khi thôi làm giảng viên (không bao gồm trường hợp bị kỷ luật buộc thôi việc) mà đăng ký dự thi cấp Chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan trong thời hạn 03 năm kể từ ngày có quyết định chuyển công tác, nghỉ hưu hoặc nghỉ việc.

2. Cơ sở xét miễn thi:

c.1) Ngành đào tạo ghi trên bằng tốt nghiệp hoặc chuyên ngành đào tạo ghi trên văn bản ghi kết quả học tập phù hợp với chuyên ngành quy định tại tiết a.1 điểm a và tiết b.1 điểm b nêu trên.

c.2) Văn bản xác nhận của trường đại học, cao đẳng mà người đăng ký dự thi công tác trước khi thôi làm giảng viên phù hợp với quy định tại tiết a.2 điểm a và tiết b.2 điểm b nêu trên.

(Theo quy định tại TT số 12/2015/TT-BTC ngày 30/01/2019 và TT số 12/2019/TT-BTC ngày 16/4/2019 của Bộ Tài chính)

Học viên, thí sinh nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định và muốn được miễn thi cần đối chiếu với các thông tin trên, xuất trình hồ sơ hợp lệ (hồ sơ giấy) để Hội đồng thi rà soát và thông báo kết quả cụ thể.

(Trường HQVN)



Hỏi :

Hỏi:  Thời gian vừa qua có nhiều văn bản mới ban hành liên quan đến lĩnh vực hải quan. BBT website truonghaiquan.edu.vn có thể thống kê giúp chúng tôi một số văn bản từ tháng 9 năm 2018 đến nay để chúng tôi tiện theo dõi không (Công ty XNK Gỗ Trường An)

Trả lời :

Hỏi:  Thời gian vừa qua có nhiều văn bản mới ban hành liên quan đến lĩnh vực hải quan. BBT website truonghaiquan.edu.vn có thể thống kê giúp chúng tôi một số văn bản từ tháng 9 năm 2018 đến nay để chúng tôi tiện theo dõi không (Công ty XNK Gỗ Trường An)

Đáp: Công ty có thể tham khảo một số văn bản như sau:

1. Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019.

2. Nghị định số 14/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2015/NĐ-CP ngày 28/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.

3. Nghị định số 57/2019/NĐ-CP ngày 26/6/2019 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương giai đoạn 2019 - 2022.

4. Quyết định số 23/2019/QĐ-TTg ngày 27/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục hàng hóa nhập khẩu phải làm thủ tục tại cửa khẩu nhập.

5. Thông tư số 93/2018/TT-BTC ngày 05/10/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 19/2014/TT-BTC ngày 11/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định thủ tục tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu, tiêu hủy, chuyển nhượng xe ô tô, xe hai bánh gắn máy của đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam.

6. Thông tư số 07/2019/TT-BTC ngày 15/02/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 72/2015/TT-BTC ngày 12/5/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định áp dụng chế độ ưu tiên trong việc thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp.

7. Thông tư số 09/2019/TT-BTC ngày 15/02/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại các phụ lục của Thông tư số 65/2017/TT-BTC ngày 27/6/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.

8. Thông tư số 22/2019/TT-BTC ngày 16/4/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 12/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết thủ tục cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; cấp và thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; trình tự, thủ tục công nhận và hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan.

9. Thông tư số 56/2019/TT-BTC ngày 23/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 49/2015/TT-BTC ngày 14/4/2015 quy định thủ tục hải quan đối với thư, gói, kiện hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua dịch vụ bưu chính của doanh nghiệp được chỉ định và Thông tư số 191/2015/TT-BTC ngày 24/11/2015 quy định thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế.

10. Thông tư 60/2019/TT-BTC ngày 30/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

11. Thông tư 62/2019/TT-BTC ngày 05/9/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 38/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

(BBT)

Hỏi :

Hỏi: Xin cho biết thủ tục xác định mã số HS của hàng hoá dự kiến XNK trước khi làm thủ tục hải quan là gì? (Công ty CP Ong Tam Đảo)

Trả lời :

Hỏi: Xin cho biết thủ tục xác định mã số HS của hàng hoá dự kiến XNK trước khi làm thủ tục hải quan là gì? (Công ty CP Ong Tam Đảo)

Đáp: Để nắm được mã HS của hàng hoá dự kiến XNK trước khi làm thủ tục hải quan, DN có thể lựa chọn phương án đề nghị xác định trước mã số hàng hoá theo quy định hiện hành. Theo đó, tại Khoản 11, Điều 1 Nghị định 59/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định “2. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đề nghị xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan: a) Nộp đủ hồ sơ đề nghị xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đến Tổng cục Hải quan trong thời hạn ít nhất 60 ngày trước khi XNK lô hàng”. Cũng tại Khoản 3, Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC sửa đổi bổ sung một số điều tại Thông tư 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn: “1. Hồ sơ, mẫu hàng hoá xác định trước mã số. a) Đơn đề nghị xác định trước mã số theo mẫu số 01/XĐTMS/TXNK Phụ lục VI ban hành kèm Thông tư này; b) Tài liệu kỹ thuật do tổ chức, cá nhân đề nghị xác định trước mã số hàng hoá cung cấp (bản phân tích thành phần, catologue, hình ảnh hàng hoá): 1 bản chụp; c) Mẫu hàng hoá dự kiến XNK (nếu có)".

Hỏi :

Hỏi: Chúng tôi làm thủ tục hải quan tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng. Khi xuất trình C/O form AK, trên ô số 7, phía đối tác không thể hiện thông tin về và số kiện hàng nên C/O đó bị từ chối. Vậy xin hỏi BBT website truonghaiquan.edu.vn, chúng tôi nên xử lý thế nào trong tình huống nêu trên. Chúng tôi cam kết hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O.

Trả lời :

Hỏi: Chúng tôi làm thủ tục hải quan tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng. Khi xuất trình C/O form AK, trên ô số 7, phía đối tác không thể hiện thông tin về và số kiện hàng nên C/O đó bị từ chối. Vậy xin hỏi BBT website truonghaiquan.edu.vn, chúng tôi nên xử lý thế nào trong tình huống nêu trên. Chúng tôi cam kết hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O. (Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư S, Quận Lê Chân, TP. Hải Phòng)

Đáp: Chào bạn. Về việc này, BBT website xin trả lời như sau:

1. Theo hướng dẫn tại mẫu Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa mẫu AK và VK (KV) ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BCT ngày 25/6/2014 và Thông tư số 40/2015/TT-BCT ngày 18/11/2015, ô số 7 của C/O khai báo số và loại kiện hàng, mô tả hàng hóa (bao gồm số lượng (nếu có) và mã HS của nước nhập khẩu); thông tin mô tả hàng hóa phải đủ chi tiết để cán bộ hải quan có thể kiểm tra. Do đó, các thông tin mô tả hàng hóa trên ô số 7 C/O cần đầy đủ để cơ quan hải quan xác định hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O.

2. Căn cứ quy định tại Mục 2.2.3 Quyết định số 4286/QĐ-TCHQ ngày 31/12/2015, trong trường hợp C/O không thể hiện thông tin về số và kiện hàng tại ô số 7 nhưng cơ quan hải quan qua kiểm tra, đối chiếu C/O với các chứng từ khác trong bộ hồ sơ hải quan, kết quả kiểm tra thực tế (nếu có) và thông tin trên trang tra cứu điện tử của cơ quan cấp C/O Hàn Quốc, xác định hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O thì cơ quan hải quan xem xét chấp nhận C/O.

Đề nghị công ty bạn đối chiếu với các quy định hiện hành, giải trình và đề xuất với đơn vị hải quan nơi bạn làm thủ tục để xử lý.

Hỏi :

Hỏi: Công ty chúng tôi khi làm thủ tục xin miễn thuế nhập khẩu được cơ quan hải quan hướng dẫn xuất trình  vận đơn MBL/HBL. Xin đề nghị BBT giải thích cụ thể hơn? (Công ty TNHH Tiếp vận và Vận tải A, huyện Kiến An, TP. Hải Phòng)


Trả lời :

Hỏi: Công ty chúng tôi khi làm thủ tục xin miễn thuế nhập khẩu được cơ quan hải quan hướng dẫn xuất trình  vận đơn MBL/HBL. Xin đề nghị BBT giải thích cụ thể hơn? (Công ty TNHH Tiếp vận và Vận tải A, huyện Kiến An, TP. Hải Phòng).

Đáp: Câu hỏi của bạn, BBT xin trả lời như sau: Khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu người khai hải quan chỉ phải nộp cho cơ quan Hải quan một bản chụp vận đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương. Theo quy định tại Điều 105 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính thì hồ sơ miễn thuế là hồ sơ hải quan theo hướng dẫn tại Thông tư này. Theo quy định tại Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2, Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC và Điều 16 Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 5, Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính thì khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, người khai hải quan phải nộp cho cơ quan hải quan "vận đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương đối với trường hợp hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, đường hàng không; đường sắt, vận tải đa phương thức theo quy định của pháp luật (trừ hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới đường bộ, hàng hóa mua bán giữa khu phi thuế quan và nội địa, hàng hóa nhập khẩu do người nhập cảnh mang theo đường hành lý): 1 bản chụp”.

Trường Hải quan Việt Nam tích cực thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong năm 2019

Cập nhật : 15/11/2019
Lượt xem: 125


(BBT) - Từ năm 2018, Trường Hải quan Việt Nam phải tự chủ tài chính dưới 10%. Để bù đắp khoản kinh phí này, hàng năm ngoài các lớp trong kế hoạch do Tổng cục Hải quan giao sử dụng bằng nguồn kinh phí đào tạo của Ngành, Nhà trường phải tự khai thác các lớp đào tạo theo cơ chế tự chủ tài chính. Để hoàn thành mục tiêu tự chủ đã đề ra, Nhà trường cần có kế hoạch cụ thể và đổi mới tư duy trong công tác đào tạo để tiếp cận được với nhu cầu của các đơn vị hải quan trong ngành, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp.



Nhìn lại 01 năm thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của Trường Hải quan Việt Nam 


Trước năm 2018, Trường Hải quan Việt Nam được phân loại là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động. Từ năm 2018, Trường Hải quan Việt Nam phải tự chủ tài chính dưới 10%.

Ngay từ đầu năm 2019, Ban Giám hiệu đã quyết liệt chỉ đạo các đơn vị triển khai tổ chức thực hiện các lớp đào tạo, bồi dưỡng có thu. Theo đó, tất các các Khoa, Phòng thuộc Trường đều phải tham gia tổ chức các lớp tự chủ.

Đến giữa năm 2019, căn cứ tình hình và kết quả triển khai các lớp đào tạo, bồi dưỡng có thu năm 2018, Trường tiến hành xây dựng khung pháp lý cho mô hình đào tạo bồi dưỡng có thu nhằm mục đích khuyến khích các đơn vị, cá nhân tích cực tham gia tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng có thu và đảm bảo tăng thêm thu nhập cho cán bộ, giảng viên, nhân viên Nhà trường.

Năm 2019 là năm đầu tiên Nhà trường chính thức thực hiện tự chủ tài chính. Xác định rõ đây là chủ trương của Đảng và Nhà nước dần dần chuyển đổi cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập thành đơn vị tự chủ tài chính, Nhà trường nhận thức đây vừa là thách thức đồng thời là cơ hội để Nhà trưởng từng bước khẳng định và phát triển năng lực, uy tín đào tạo, bồi dưỡng.

Ngay từ đầu năm, Ban Giám hiệu và Chi bộ Nhà trường triển khai nhiều cuộc họp để tuyên truyền cũng như thống nhất phương hướng thực hiện nhiệm vụ mới đồng thời làm công tác tư tưởng để cán bộ, giảng viên, người lao động Nhà trường nhận thức được tầm quan trọng của nhiệm vụ mới, những tác động liên quan đến chính lợi ích người lao động.

Tính đến tháng 10/2019, Trường Hải quan Việt Nam đã tổ chức được 19 lớp với 729 học viên đào tạo, bồi dưỡng theo cơ chế tự chủ tài chính của Nhà trường (14 lớp tổ chức cho công chức hải quan chiếm 73.6% với 567 lượt học viên chiếm 77.7%; 05 lớp tổ chức cho doanh nghiệp chiếm 26.4% tổng số lớp với 162/729 lượt học viên chiếm 23.3%).

Các khóa học nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết phục vụ công tác nghiệp vụ cho công chức hải quan và cán bộ doanh nghiệp, Bộ, Ngành khác. Nội dung đào tạo chủ yếu xoay quanh bồi dưỡng kỹ năng, tập huấn về các nghiệp vụ hải quan cơ bản như: xử lý vi phạm, quản lý rủi ro, giao tiếp ứng xử… Các chương trình chưa đa dạng, phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của hải quan địa phương và các tổ chức khác. Xác định các lớp tự chủ phải đạt được chất lượng cao nhất, Nhà trường chủ động phối hợp với Hải quan địa phương để mời được những giảng viên có trình độ chuyên môn, năng lực nghiệp vụ, kinh nghiệm giảng dạy đảm bảo theo quy định.



Để đáp ứng yêu cầu tự chủ, Trường nỗ lực đổi mới phương pháp đào tạo
(Ảnh tư liệu)


Qua khảo sát, các khóa học đều nhận được phản hồi tích cực từ phía các đơn vị phối hợp và học viên tham dự. Các khóa học đã đáp ứng một phần yêu cầu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và chuẩn hóa năng lực vị trí việc làm của các học viên tham dự. Tiết kiệm thời gian di chuyển của học viên, đồng thời đảm bảo công việc tại đơn vị.

Đánh giá hoạt động đào tạo theo cơ chế tự chủ của Trường Hải quan Việt Nam năm 2019

Để có những kết quả tích cực như trên, Trường Hải quan đã có những thuận lợi nhất định trong quá trình triển khai như: Sự chỉ đạo quyết liệt của Lãnh đạo Tổng cục Hải quan, Ban Giám hiệu Nhà trường; sự nhận thức đầy đủ và quyết tâm thực hiện của các đơn vị trong Trường; sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị trong Trường Hải quan Việt Nam; sự hỗ trợ, hợp tác của một số Cục Hải quan địa phương trong việc tin cậy phối hợp với Trường tổ chức nhiều lớp học và cử giảng viên chất lượng tham gia giảng dạy như Cục HQ TP. Hồ Chí Minh; Cục HQ Hà Nội,…; sự phối hợp nhiệt tình của đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia đầu ngành, có chuyên môn và năng lực nghiệp vụ, nhiệt huyết với nghề; sự tích cực tham gia các khóa học của các công chức trong ngành do các khóa học đã đáp ứng được nhu cầu nâng cao năng lực và yêu cầu vị trí việc làm.

Bên cạnh đó, những khó khăn, thách thức mà Trường phải đối mặt cũng không nhỏ. Tư tưởng của cán bộ, giảng viên và người lao động chưa thực sự chuyển biến, vẫn chưa nhận thức được tầm quang trọng của tự chủ tài chính gắn liền với đời sống của chính mình; chưa tìm hiểu được đầy đủ nhu cầu đào tạo thực tế dẫn đến các chương trình đào tạo, bồi dưỡng còn chưa đa dạng, phong phú, chưa cập nhật kịp thời để có thể đáp ứng tốt nhất yêu cầu bức thiết của hải quan địa phương và doanh nghiệp. Do vậy, năm 2019, Nhà trường mới khai thác các lớp tại một số ít các Cục Hải quan như: TP HCM, Hải Phòng, Tây Ninh, Hà Nội, Ninh Bình, Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh… trong khi một bộ phận lớn (khoảng ¾) các Cục Hải quan địa phương khác chưa được khai thác nhu cầu. Hoạt động khai thác các lớp dành cho đối tượng doanh nghiệp, các cơ quan Bộ, Ngành có liên quan hầu như rất ít, chưa tận dụng được hết thế mạnh, đặc thù và kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng của Nhà trường.

Hoạt động quảng bá thông tin về Nhà trường và các khóa học, công cụ kết nối thông tin với cộng đồng doanh nghiệp còn chưa được quan tâm, chú trọng đúng mức.

Trụ sở của Nhà trường hiện nay được đóng tại Hưng Yên xa trung tâm nên việc tận dụng cơ sở vật chất của Trường tổ chức các lớp phục vụ doanh nghiệp rất khó khăn.

Phương hướng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng theo cơ chế tự chủ của Trường Hải quan Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025

Khắc phục các nhược điểm nội tại

Tiếp tục làm công tác tư tưởng cho cán bộ, giảng viên của Nhà trường.

Các Khoa, Phòng chủ động tiếp cận tất cả các hội nghị tập huấn văn bản mới, chủ động kết nối với từng hải quan địa phương nắm bắt nhu cầu thực tế của HQ địa phương từ đó xây dựng các lớp tiếp thị cho đơn vị.

Chủ động xây dựng các mối quan hệ với hải quan địa phương để khai thác nguồn giảng viên kiêm chức có chất lượng tốt.

Đổi mới thái độ, tác phong phục vụ xác định Nhà trường là đơn vị cung cấp dịch vụ đào tạo.

Xây dựng phương án truyền thông chuyên nghiệp, phương án tiếp cận doanh nghiệp để đưa được thông tin đến với doanh nghiệp, Bộ, Ngành cũng đồng thời có kênh thông tin để doanh nghiệp đăng ký đào tạo theo nhu cầu.

Tiếp tục phát huy và tăng cường đào tạo các lớp tự chủ cho hải quan địa phương, đặc biệt chú trọng xây dựng giáo trình đào tạo theo vị trí việc làm theo khung năng lực vị trí việc làm của từng lĩnh vực làm nguồn tài liệu chuẩn đào tạo cho toàn ngành. Đây cũng là tiền đề để đào tạo theo cơ chế tự chủ trong tương lai.

Ưu tiên đào tạo cho cộng đồng doanh nghiệp

Thực hiện phân loại xác định từng nhóm doanh nghiệp thực hiện tiếp cận đào tạo cho phù hợp, lập phương án tiếp cận doanh nghiệp, chuẩn hóa các nội dung đào tạo và giảng viên tham gia giảng dạy, phát triển đào tạo thông qua các diễn đàn đối tác hải quan - doanh nghiệp, nghiên cứu các loại hình dịch vụ khác để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng trong thời gian tới.

(Hồng Hường - Phòng Đào tạo và Quản lý học viên)