Hỏi :

Hỏi: Chúng tôi làm thủ tục hải quan tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng. Khi xuất trình C/O form AK, trên ô số 7, phía đối tác không thể hiện thông tin về và số kiện hàng nên C/O đó bị từ chối. Vậy xin hỏi BBT website truonghaiquan.edu.vn, chúng tôi nên xử lý thế nào trong tình huống nêu trên. Chúng tôi cam kết hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O.

Trả lời :

Hỏi: Chúng tôi làm thủ tục hải quan tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng. Khi xuất trình C/O form AK, trên ô số 7, phía đối tác không thể hiện thông tin về và số kiện hàng nên C/O đó bị từ chối. Vậy xin hỏi BBT website truonghaiquan.edu.vn, chúng tôi nên xử lý thế nào trong tình huống nêu trên. Chúng tôi cam kết hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O. (Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư S, Quận Lê Chân, TP. Hải Phòng)

Đáp: Chào bạn. Về việc này, BBT website xin trả lời như sau:

1. Theo hướng dẫn tại mẫu Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa mẫu AK và VK (KV) ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BCT ngày 25/6/2014 và Thông tư số 40/2015/TT-BCT ngày 18/11/2015, ô số 7 của C/O khai báo số và loại kiện hàng, mô tả hàng hóa (bao gồm số lượng (nếu có) và mã HS của nước nhập khẩu); thông tin mô tả hàng hóa phải đủ chi tiết để cán bộ hải quan có thể kiểm tra. Do đó, các thông tin mô tả hàng hóa trên ô số 7 C/O cần đầy đủ để cơ quan hải quan xác định hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O.

2. Căn cứ quy định tại Mục 2.2.3 Quyết định số 4286/QĐ-TCHQ ngày 31/12/2015, trong trường hợp C/O không thể hiện thông tin về số và kiện hàng tại ô số 7 nhưng cơ quan hải quan qua kiểm tra, đối chiếu C/O với các chứng từ khác trong bộ hồ sơ hải quan, kết quả kiểm tra thực tế (nếu có) và thông tin trên trang tra cứu điện tử của cơ quan cấp C/O Hàn Quốc, xác định hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa khai báo trên C/O thì cơ quan hải quan xem xét chấp nhận C/O.

Đề nghị công ty bạn đối chiếu với các quy định hiện hành, giải trình và đề xuất với đơn vị hải quan nơi bạn làm thủ tục để xử lý.

Hỏi :

Hỏi: Công ty chúng tôi khi làm thủ tục xin miễn thuế nhập khẩu được cơ quan hải quan hướng dẫn xuất trình  vận đơn MBL/HBL. Xin đề nghị BBT giải thích cụ thể hơn? (Công ty TNHH Tiếp vận và Vận tải A, huyện Kiến An, TP. Hải Phòng)


Trả lời :

Hỏi: Công ty chúng tôi khi làm thủ tục xin miễn thuế nhập khẩu được cơ quan hải quan hướng dẫn xuất trình  vận đơn MBL/HBL. Xin đề nghị BBT giải thích cụ thể hơn? (Công ty TNHH Tiếp vận và Vận tải A, huyện Kiến An, TP. Hải Phòng).

Đáp: Câu hỏi của bạn, BBT xin trả lời như sau: Khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu người khai hải quan chỉ phải nộp cho cơ quan Hải quan một bản chụp vận đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương. Theo quy định tại Điều 105 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính thì hồ sơ miễn thuế là hồ sơ hải quan theo hướng dẫn tại Thông tư này. Theo quy định tại Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2, Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC và Điều 16 Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 5, Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính thì khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, người khai hải quan phải nộp cho cơ quan hải quan "vận đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương đối với trường hợp hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, đường hàng không; đường sắt, vận tải đa phương thức theo quy định của pháp luật (trừ hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới đường bộ, hàng hóa mua bán giữa khu phi thuế quan và nội địa, hàng hóa nhập khẩu do người nhập cảnh mang theo đường hành lý): 1 bản chụp”.

Hỏi :

Hỏi: Liên quan đến việc nộp Giấy phép Cites khi làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất hàng hóa thuộc Phụ lục Cites, đề nghị BBT website giải đáp cụ thể cho doanh nghiệp chúng tôi (clearance procedure@vietnamline.vn)

Trả lời :

Hỏi: Liên quan đến việc nộp Giấy phép Cites khi làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất, đề nghị BBT website giải đáp cụ thể cho doanh nghiệp chúng tôi (clearance procedure@vietnamline.vn)

Đáp: Khi thủ tục nộp Giấy phép Cites khi làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất hàng hóa thuộc Phụ lục Cites, doanh nghiệp nộp 01 bản chụp Giấy phép Cites có xác nhận của doanh nghiệp cho cơ quan hải quan và xuất trình bản chính Giấy phép Cites (bản giấy) để cán bộ hải quan xác nhận số lượng hàng hóa thực xuất vào ô số 14 của Giấy phép Cites. Chi cục Hải quan sao gửi 01 bản Giấy phép đã xác nhận về Cơ quan quản lý Cites theo quy định tại Điều 24, Nghị định số 82/2006/NĐ-CP và trả bản chính Giấy phép Cites cho doanh nghiệp để thực hiện thủ tục ở nước nhập khẩu. Trường hợp Giấy phép Cites được cấp trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, doanh nghiệp không phải nộp một bản chụp Giấy phép Cites cho cơ quan hải quan.

Hỏi :

Hỏi: Thời gian gần đây, không hiểu vì lý do gì mà số lượng tờ khai kiểm tra thực tế hàng hóa của công ty chúng tôi tăng đột biến. Chúng tôi xin hỏi Quý Hải quan căn cứ vào đâu mà công ty chúng tôi lại bị hiện tượng này? Giải pháp nào để khắc phục (Công ty TNHH MTV Thương mại và Xuất nhập khẩu MLK)

Trả lời :

Hỏi: Thời gian gần đây, không hiểu vì lý do gì mà số lượng tờ khai kiểm tra thực tế hàng hóa của công ty chúng tôi tăng đột biến. Chúng tôi xin hỏi Quý Hải quan căn cứ vào đâu mà công ty chúng tôi lại bị hiện tượng này? Giải pháp nào để khắc phục (Công ty TNHH MTV Thương mại và Xuất nhập khẩu MLK)

Đáp: Về câu hỏi của bạn, chúng tôi xin giải đáp như sau: Việc hệ thống quyết định phân luồng kiểm tra tờ khai được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro nhằm đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu theo đúng quy định tại khoản 2, Điều 16, Luật Hải quan năm 2014; Điều 13, Điều 15 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan và Điều 8, Điều 10 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Do đó, đề nghị công ty tiếp tục hợp tác với cơ quan Hải quan để hệ thông thông tin QLRR ghi nhận tình hình tuân thủ, từ đó góp phần cải thiện kết quả phân luồng tờ khai.

Hỏi :

Đề nghị BBT website giải thích rõ cho công ty chúng tôi về việc xác định thời điểm thông báo thông tin hàng hóa xuất khẩu đóng chung container, chung phương tiện chứa hàng? (bichhuyenvantainhanh@oceanway.vn)

Trả lời :

Tại điểm k khoản 1 Điều 18 Thông tư số 38/2015/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung tại điểm b khoản 7 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC) quy định: Khi đăng ký tờ khai hải quan xuất khẩu, người khai hải quan phải khai đầy đủ số hiệu container trên tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu vận chuyển bằng container và số quản lý hàng hóa xuất khẩu. Trường hợp hàng hóa thuộc nhiều tờ khai hải quan xuất khẩu của cùng một chủ hàng đóng chung container hoặc chung phương tiện chứa hàng thì người khai hải quan phải thông báo thông tin quy định tại mẫu số 15 Phụ lục I ban hành kèm Thông tư 39. Như vậy, thời điểm thông báo thông tin hàng hóa xuất khẩu chung container, chung phương tiện chứa hàng là trước khi đăng ký tờ khai hải quan (phần mô tả tại mẫu số 15 Phụ lục I Thông tư 39/2018/TT-BTC).

Các giải pháp thu hút giảng viên kiêm chức tham gia giảng dạy tại Trường Hải quan Việt Nam

Cập nhật : 03/04/2019
Lượt xem: 50

(BBT) - Phát triển nguồn nhân lực là một yếu tố cơ bản của sự phát triển bền vững và cải cách hiện đại hoá hải quan. Đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng 4.0, sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ đã đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của ngành Hải quan cần có những kiến thức, kỹ năng mới về chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Một trong những yếu tố then chốt để thực hiện được mục tiêu cải cách hiện đại hóa toàn Ngành là công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ và lực lượng giúp thúc đẩy hiệu quả của quá trình này là đội ngũ giảng viên của Ngành. 

Vai trò của đội ngũ giảng viên trong công tác đào tạo, bồi dưỡng 

Đội ngũ giảng viên của Trường đã được xây dựng, củng cố, kiện toàn qua nhiều năm. Ngoài 24 giảng viên cơ hữu, Trường còn có 152 giảng viên kiêm nhiệm là công chức thuộc các đơn vị nghiệp vụ, Cục Hải quan địa phương. 

Việc huy động đội ngũ giảng viên kiêm chức tham gia giảng dạy có ý nghĩa quan trọng và cần thiết, giúp học viên được nâng cao kiến thức, cập nhật các nội dung mới, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng. Ngoài ra, việc giảng dạy cũng là cơ hội để các Cục, Vụ truyền đạt và định hướng kiến thức nghiệp vụ hiện hành đồng thời, thu thập trực tiếp các phản hồi vướng mắc của các đơn vị thực hiện và góc nhìn đa chiều đối với các chính sách hiện hành. 



Đồng chí Vương Tuấn Nam - một trong những giảng viên
có chất lượng cao nhất của Ngành
(Ảnh tư liệu)

Các khó khăn trong công tác giảng dạy tại Trường của các giảng viên kiêm chức 

Trong thời gian vừa qua, công tác phối hợp giảng dạy tại Trường Hải quan Việt Nam của giảng viên kiêm chức còn gặp rất nhiều khó khăn và chưa đạt hiệu quả cao do một số nguyên nhân chính sau: 

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các chính sách về chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên chưa đồng bộ, hiệu lực chưa cao. 

Việc bố trí giảng viên kiêm nhiệm tham gia giảng dạy theo kế hoạch của Nhà trường còn bị động do phụ thuộc vào công tác chuyên môn tại đơn vị. 

Cơ chế quản lý và sử dụng cán bộ chưa tạo động lực và thu hút được cán bộ tham gia giảng dạy. 

Sự quan tâm của các đơn vị tạo điều kiện cho công chức của đơn vị tham gia vào công tác giảng viên kiêm nhiệm còn nhiều hạn chế. 

Các giải pháp thu hút giảng viên kiêm chức 

Trên cơ sở thực tế, cần có quy định và chính sách rõ ràng cụ thể bằng các văn bản quy định đối với các cấp để đẩy mạnh việc tham gia giảng dạy của đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm. 

Xây dựng kế hoạch huy động giảng viên tham gia giảng dạy hàng năm sau khi Tổng cục Hải quan ban hành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức để các đơn vị và giảng viên kiêm nhiệm chủ động sắp xếp kế hoạch công tác. 

Bổ sung vào tiêu chuẩn bổ nhiệm, quy hoạch: Nhiệm vụ giảng dạy được xác định là một trong những điều kiện để bổ nhiệm, quy hoạch đối với mỗi cán bộ, công chức. Bởi những cán bộ thuộc diện nêu trên là những người có trình độ chuyên môn và phẩm chất nghề nghiệp, sẽ có kinh nghiệm thực tế để truyền đạt kiến thức cho học viên. Do vậy, cần có định mức rõ ràng và yêu cầu các đơn vị thực hiện. Ví dụ: Đối với cán bộ, công chức thuộc đối tượng quy hoạch bổ nhiệm vào một vị trí mới cần phải tham gia giảng dạy tại đơn vị hoặc các Trường của Ngành tối thiểu từ 40 tiết/năm; Các đối tượng là lãnh đạo cấp Vụ, Cục hàng năm phải tham gia giảng dạy tại đơn vị công tác hoặc các cơ sở đào tạo của Ngành tối thiểu là 08 tiết/năm. 

Bổ sung vào tiêu chí thi đua, khen thưởng hàng năm: Các giảng viên kiêm chức tham gia giảng dạy được cơ sở đào tạo, bồi dưỡng được ưu tiên trong đánh giá, thi đua tại đơn vị. 

Lập quy hoạch, chiến lược phát triển đội ngũ giảng viên kiêm chức: Hàng năm, các đơn vị rà soát, bổ sung những cán bộ, công chức, viên chức có trình độ chuyên môn và đáp ứng các tiêu chuẩn vào danh sách giảng viên kiêm chức của Ngành đảm bảo về cơ cấu, số lượng, chất lượng. Đồng thời, tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm và chuyên môn, nghiệp vụ hải quan nâng cao để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên kiêm chức. 

Xây dựng cơ chế, chính sách luân chuyển cán bộ giữa giảng viên Nhà trường và các đơn vị nghiệp vụ trung ương, địa phương: Do đặc thù đào tạo nghiệp vụ chuyên biệt, giảng viên phải là cán bộ, công chức đã có bề dày kinh nghiệm, thực tiễn (trên 05 năm công tác) thuộc các đơn vị nghiệp vụ hoặc Hải quan địa phương tham gia giảng dạy. Việc luân chuyển cán bộ sẽ khai thác tối đa kinh nghiệm thực tiễn của các giảng viên là cán bộ tại các đơn vị. Đồng thời, giúp giảng viên Nhà trường có điều kiện tích lũy kinh nghiệm, nâng cao khả năng chuyên môn, nghiệp vụ và tham gia giảng dạy. 

Xây dựng cơ chế ưu đãi nghề đối với đội ngũ giảng viên cơ hữu để thu hút công chức từ các đơn vị trong Ngành về công tác tại Trường: Ngoài lương được hưởng như hiện tại, các giảng viên cơ hữu sẽ được thù lao giảng dạy tương tự như giảng viên kiêm chức khi tham gia giảng dạy. Điều này là hoàn toàn hợp lý vì ngoài việc giảng dạy, giảng viên cơ hữu có nhiều nhiệm vụ khác như: tổ chức đào tạo, quản lý học viên, biên soạn, biên tập giáo trình, trả lời các công văn của các đơn vị trong Ngành hoặc theo yêu cầu của Lãnh đạo Tổng cục, Ban Giám hiệu,… 

Xây dựng cơ chế tài chính, đảm bảo kinh phí giảng dạy đối với giảng viên kiêm chức phải được ngang bằng với mức kinh phí chung của các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống đào tạo quốc gia để thu hút sự tích cực tham gia giảng dạy. 

Ngoài các chính sách, cơ chế trên, cần có những biện pháp tác động kịp thời nhằm nâng cao nhận thức của Lãnh đạo, cán bộ, công chức trong Ngành về vai trò và trách nhiệm của công tác đào tạo, bồi dưỡng và tham gia giảng dạy của đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm: 

Nâng cao nhận thức của Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan về tầm quan trọng của công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và trách nhiệm tham gia giảng dạy của đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. 

Động viên, định hướng giúp giảng viên kiêm chức nhận thức rõ công tác giảng dạy vừa là trách nhiệm, vừa là niềm tự hào đối với mỗi cá nhân. 

Nâng cao nhận thức của lãnh đạo đơn vị quản lý trong việc cử giảng viên kiêm chức tham gia giảng dạy, coi đó là trách nhiệm của mỗi đơn vị góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng toàn Ngành, tạo điều kiện cho cán bộ tham gia giảng dạy. 

Trong những năm gần đây, chất lượng giảng viên của Ngành đã được nâng cao, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đào tạo. Giảng viên là những cán bộ có phẩm chất chính trị tốt, có kiến thức và kinh nghiệm về hoạt động nghiệp vụ hải quan. Phương pháp giảng dạy thường xuyên được cập nhật và áp dụng linh hoạt, phù hợp với nội dung bài học. Một số giảng viên đang rất tích cực tham gia giảng dạy cả ở đơn vị và Trường Hải quan Việt Nam. Với chiến lược và định hướng phát triển mới, sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng của ngành Hải quan trong giai đoạn tiếp theo sẽ có những bước tiến hiệu quả. 

(Hồng Hường)