Hỏi :

Hỏi: Liên quan đến việc nộp Giấy phép Cites khi làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất hàng hóa thuộc Phụ lục Cites, đề nghị BBT website giải đáp cụ thể cho doanh nghiệp chúng tôi (clearance procedure@vietnamline.vn)

Trả lời :

Hỏi: Liên quan đến việc nộp Giấy phép Cites khi làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất, đề nghị BBT website giải đáp cụ thể cho doanh nghiệp chúng tôi (clearance procedure@vietnamline.vn)

Đáp: Khi thủ tục nộp Giấy phép Cites khi làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất hàng hóa thuộc Phụ lục Cites, doanh nghiệp nộp 01 bản chụp Giấy phép Cites có xác nhận của doanh nghiệp cho cơ quan hải quan và xuất trình bản chính Giấy phép Cites (bản giấy) để cán bộ hải quan xác nhận số lượng hàng hóa thực xuất vào ô số 14 của Giấy phép Cites. Chi cục Hải quan sao gửi 01 bản Giấy phép đã xác nhận về Cơ quan quản lý Cites theo quy định tại Điều 24, Nghị định số 82/2006/NĐ-CP và trả bản chính Giấy phép Cites cho doanh nghiệp để thực hiện thủ tục ở nước nhập khẩu. Trường hợp Giấy phép Cites được cấp trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, doanh nghiệp không phải nộp một bản chụp Giấy phép Cites cho cơ quan hải quan.

Hỏi :

Hỏi: Thời gian gần đây, không hiểu vì lý do gì mà số lượng tờ khai kiểm tra thực tế hàng hóa của công ty chúng tôi tăng đột biến. Chúng tôi xin hỏi Quý Hải quan căn cứ vào đâu mà công ty chúng tôi lại bị hiện tượng này? Giải pháp nào để khắc phục (Công ty TNHH MTV Thương mại và Xuất nhập khẩu MLK)

Trả lời :

Hỏi: Thời gian gần đây, không hiểu vì lý do gì mà số lượng tờ khai kiểm tra thực tế hàng hóa của công ty chúng tôi tăng đột biến. Chúng tôi xin hỏi Quý Hải quan căn cứ vào đâu mà công ty chúng tôi lại bị hiện tượng này? Giải pháp nào để khắc phục (Công ty TNHH MTV Thương mại và Xuất nhập khẩu MLK)

Đáp: Về câu hỏi của bạn, chúng tôi xin giải đáp như sau: Việc hệ thống quyết định phân luồng kiểm tra tờ khai được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro nhằm đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu theo đúng quy định tại khoản 2, Điều 16, Luật Hải quan năm 2014; Điều 13, Điều 15 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan và Điều 8, Điều 10 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Do đó, đề nghị công ty tiếp tục hợp tác với cơ quan Hải quan để hệ thông thông tin QLRR ghi nhận tình hình tuân thủ, từ đó góp phần cải thiện kết quả phân luồng tờ khai.

Hỏi :

Đề nghị BBT website giải thích rõ cho công ty chúng tôi về việc xác định thời điểm thông báo thông tin hàng hóa xuất khẩu đóng chung container, chung phương tiện chứa hàng? (bichhuyenvantainhanh@oceanway.vn)

Trả lời :

Tại điểm k khoản 1 Điều 18 Thông tư số 38/2015/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung tại điểm b khoản 7 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC) quy định: Khi đăng ký tờ khai hải quan xuất khẩu, người khai hải quan phải khai đầy đủ số hiệu container trên tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu vận chuyển bằng container và số quản lý hàng hóa xuất khẩu. Trường hợp hàng hóa thuộc nhiều tờ khai hải quan xuất khẩu của cùng một chủ hàng đóng chung container hoặc chung phương tiện chứa hàng thì người khai hải quan phải thông báo thông tin quy định tại mẫu số 15 Phụ lục I ban hành kèm Thông tư 39. Như vậy, thời điểm thông báo thông tin hàng hóa xuất khẩu chung container, chung phương tiện chứa hàng là trước khi đăng ký tờ khai hải quan (phần mô tả tại mẫu số 15 Phụ lục I Thông tư 39/2018/TT-BTC).

Hỏi :

Tôi là đại diện doanh nghiệp chuyên nhập khẩu theo loại hình sản xuất xuất khẩu và nhập kinh doanh tiêu dùng. Tôi muốn nhờ BBT website truonghaiquan.edu.vn giải thích cụ thể về việc xác định ngày đưa hàng về bảo quản theo Thông tư 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018? (dinhtienphong@navis.com)

Trả lời :

Đưa hàng về bảo quản là việc doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa ra khỏi khu vực giám sát hải quan tại cửa khẩu để đưa về địa điểm lưu giữ đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 33 Nghị định 08/2015/NĐ-CP được hướng dẫn cụ thể tại điểm b khoản 3 Điều 32 Thông tư 38/2015/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 21 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC). Do vậy, việc xác định thời điểm doanh nghiệp đưa hàng về bảo quản là ngày doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa ra khỏi khu vực giám sát hải quan tại cửa khẩu và được cơ quan hải quan xác nhận trên hệ thống.

Hỏi :

Công ty chúng tôi nhiều lần được phản hồi là chữ ký trên C/O không phù hợp, không giống với chữ ký mẫu của bên Hải quan lưu trữ. Đề nghị BBT tư vấn cho công ty?

Trả lời :

Điều 15, Điều 19 và Điều 21 Thông tư 38/2018/TT-BTC ngày 20/04/2018 của Bộ Tài chính quy định: một trong những nội dung phải kiểm tra trên C/O là mẫu dấu, chữ ký trên C/O đó. Do đó, trường hợp chữ ký của người có thẩm quyền cấp trên C/O không giống với chữ ký mẫu đã được Tổ chức cấp C/O thông báo trước đó, cơ quan Hải quan sẽ tiến hành xác minh tính hợp lệ chữ ký của người cấp C/O. Trường hợp Tổ chức cấp C/O có xác nhận chữ ký của người có thẩm quyền cấp C/O là hợp lệ đồng thời các tiêu chí thể hiện trên C/O phù hợp với các chứng từ thuộc hồ sơ Hải quan thì C/O đó sẽ được chấp nhận và ngược lại, C/O sẽ bị từ chối nếu Tổ chức cấp C/O xác nhận chữ ký của người có thẩm quyền cấp C/O là không hợp lệ.

Trường Hải quan Việt Nam: 30 năm xây dựng và phát triển (14/7/1986 - 14/7/2016)

Cập nhật : 11/07/2016
Lượt xem: 1318

(truonghaiquan.edu.vn) - truonghaiquan.edu.vn giới thiệu lịch sử xây dựng và phát triển của Trường Hải quan Việt Nam.

1.
Ngày 14/07/1986 thành lập Trường Nghiệp vụ Hải quan, đặt trụ sở tại số 86 Trần Huy Liệu, quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh theo Quyết định số 976/TCHQ-TCHQ.

Ngay sau khi thành lập, đồng chí Nguyễn Văn Cầm - Phó Hiệu trưởng nhà trường đã chỉ đạo tổ chức luôn khóa đạo tạo, huấn luyện cho nhân viên Hải quan với thời gian là 03 tháng và sử dụng chương trình, tài liệu mới được biên soạn đầu năm 1986. Nội dung chương trình học bao gồm:

- Tổ chức và xây dựng lực lượng.

- Thành phần và nội dung Điều lệ Hải quan và các văn bản pháp quy về Hải quan mới được ban hành.

- Giám quản công cụ vận tải xuất nhập cảnh, giám quản hàng hóa mậu dịch xuất nhập khẩu.

- Giám quản hàng phi mậu dịch xuất nhập khẩu.

- Kiểm soát chống buôn lậu.

- Xử lý - tố tụng Hải quan.

- Thuế xuất nhập khẩu - Thống kê Hải quan.

2. Ngày 18/6/1988 Tổng cục Hải quan ban hành Quyết định số 155/QĐ-TCHQ về việc thành lập thêm Trường nghiệp vụ Hải quan I tại TP.Hà Nội, trụ sở đặt tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội.

Tính từ ngày đầu thành lập đến năm 1990, ngành Hải quan đã đào tạo và đào tạo lại cho 1492 lượt học viên; tổ chức nhiều đoàn cán bộ đi khảo sát, nghiên cứu, học tập nghiệp vụ tại Phần Lan, Liên Xô, Hungari, Cộng hòa dân chủ Đức.

3. Cuối tháng 9 năm 1990, Tổng cục Hải quan sáp nhập hai Trường Nghiệp vụ Hải quan I và Trường Nghiệp vụ Hải quan II thành Trường Hải quan Việt Nam theo Quyết định số 317/QĐ-TCHQ. Đồng chí Nguyễn Văn Cầm giữ chức vụ Hiệu trưởng, đồng chí Nguyễn Bá Kiền giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng, trụ sở đặt tại số 778 Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.

Cơ cấu tổ chức: Phòng Giáo vụ, Tổ chức - cán bộ, Hành chính và các Khoa chuyên trách.

Nội dung chương trình học bao gồm:

- Tổ chức và xây dựng lực lượng.

- Pháp luật Hải quan và Pháp luật liên quan đến hoạt động Hải quan.

- Kiểm tra giám sát Hải quan.

- Điều tra chống buôn lậu.

- Xử lý tố tụng Hải quan (Xử lý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự).

- Thuế và Kế toán thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

- Thống kê nhà nước về Hải quan.

- Tâm lý học ứng dụng trong hoạt động Hải quan.

Thời gian của mỗi khóa huấn luyện được nâng lên 5 tháng.

Trong 10 năm đầu thành lập, Trường Hải quan Việt Nam đã tổ chức được trên 30 khóa đào tạo ngắn và dài hạn với gần 5600 lượt học viên, góp thành tích lớn vào sự phát triển của ngành Hải quan tạo nên lực lượng Hải quan trong sạch, vững mạnh trong thời kỳ đổi mới.

4. Ngày 25 tháng 9 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 603/TTg thành lập Trường Cao đẳng Hải quan.

Đồng chí Nguyễn Văn Bốn được bổ nhiệm giữ chức Hiệu trưởng.

Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, bộ máy của Trường Cao đẳng Hải quan theo Quyết định số 726/TCHQ-TCCB ngày 24/11/1995 như sau:

- Phòng Tổ chức cán bộ.

- Phòng Hành chính quản trị.

- Phòng Tài vụ.

- Phòng Đào tạo.

- Phòng nghiên cứu quản lý khoa học.

- Ban báo vệ quản lý nội trú.

- Khoa Kiểm tra, giám sát và Thuế Hải quan.

- Khoa Điều tra chống buôn lậu.

- Khoa Giáo dục Đại cương.

- Khoa Ngoại ngữ.

- Khoa Bồi dưỡng nâng cao.

Ngày 17/3/2003, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 34/2003/QĐ-BTC quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trường Cao đẳng Hải quan trực thuộc Tổng cục Hải quan, cơ cấu tổ chức của Trường gồm:

- Khoa cơ bản.

- Khoa Kiểm tra giám sát và Thuế Hải quan.

- Khoa Kiểm soát Hải quan.

- Khoa Ngoại ngữ.

- Phòng Quản lý đào tạo.

- Phòng Tổ chức, Hành chính, Tài vụ.

- Trung tâm bồi dướng cán bộ, công chức Hải quan.

Công tác đào tạo giai đoạn này được nâng cao về chất và lượng. Bên cạnh đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ Hải quan cho đội ngũ cán bộ, công chức ngành Hải quan, Nhà trường còn đảm nhiệm đào tạo Cao đẳng Hải quan hệ chính quy và tại chức, phối hợp với các trường đại học lớn như Đại học Ngoại thương, Đại học Kinh tế TP. HCM, Đại học Luật,…để chiêu sinh, tổ chức các khóa đào tạo đại học.

Đội ngũ giáo viên Nhà trường ngày càng được củng cố, nâng cao trình độ. Đến năm 2005 toàn trường có tổng cố giáo viên cơ hữu là 36, trong đó có 5 tiến sĩ, 15 thạc sĩ, 16 cử nhân đại học, đồng thời có 22 giảng viên thỉnh giảng, kiểm chức là cán bộ trong ngành và các trường khác tham gia giảng dạy.

Kết quả từ năm 1996 - 2005, Nhà trường đã thực hiện:

- Đào tạo Hệ cao đẳng Hải quan chính quy được 8 khóa với 1.187 sinh viên tốt nghiệp ra trường.

- Đào tạo Hệ cao đẳng Hải quan tại chức 7 khóa với 624 học viên là cán bộ, công chức trong ngành và sinh viên tự do.

- Tổ chức nghiên cứu bảo vệ thành công 7 đề tài cấp ngành và 34 đề tài cấp trường và 3 đề tài tốt nghiệp của sinh viên cao đẳng về lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu nghiệp vụ hải quan.

- Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ hải quan 24 khóa, với 3.137 học viên là cán bộ, công chức trong ngành.

5. Ngày 22/11/2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 6641/QĐ-BGD&ĐT, sáp nhập 3 cơ sở: Trường Cao đẳng Hải quan; Trường Cao đẳng tài chính kế toán IV và Phân viện TP. Hồ Chí Minh (thuộc Học viện Tài chính) thành Trường Cao đẳng Tài chính Hải quan trực thuộc Học viện Tài chính (Bộ Tài chính).

6. Để tiếp tục đảm bảo đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Hải quan đủ sức đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa, Bộ Tài chính đã ra Quyết định số 64/QĐ-BTC ngày 06/01/2006 về việc thành lập Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng công chức hải quan trực thuộc Tổng cục Hải quan, do đồng chí Nguyễn Viết Hồng giữ chức vụ Giám đốc.

Cơ cấu của Trung tâm bao gồm Văn phòng và 05 Phòng nghiệp vụ :

- Phòng Đào tạo nghiệp vụ thủ tục Hải quan.

- Phòng Đào tạo nghiệp vụ Thuế và Trị giá Hải quan.

- Phòng Đào tạo nghiệp vụ Kiểm tra sau thông quan.

- Phòng Đào tạo nghiệp vụ Kiểm soát Hải quan.

- Phòng Đào tạo nghiệp vụ Kiến thức chung.

- Văn phòng.

Ngày 15/01/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 02/2010/QĐ-TTg về việc quy định cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ của Tổng cục Hải quan, trong đó Trung tâm đào tạo bồi dưỡng công chức Hải quan chuyển thành Trường Hải quan Việt Nam.

Cơ cấu tổ chức của Trường bao gồm:

- Khoa Kiến thức tổng hợp và Ngoại ngữ.

- Khoa Thông quan.

- Khoa Kiểm tra sau thông quan và Kiểm soát hải quan.

- Phòng Đào tạo và Quản lý học viên.

- Văn phòng.

Ngày 20/6/2016, để đáp ứng những yêu cầu mới của ngành Hải quan, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 1382/QĐ-BTC về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của Trường Hải quan Việt Nam bao gồm:

- Văn phòng.

- Khoa Kiến thức tổng hợp.

- Khoa Nghiệp vụ.

- Phòng Đào tạo và Quản lý học viên.